|
|
|
ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN
CHỈ CÓ PHẢI LÀ NGUYÊN NHÂN
ĐÀO THẢI NHIỀU SINH VIÊN? (Bài viết gửi báo
Giáo dục và Thời đại, Thanh niên, Tuổi trẻ) PGS.TS. Phan Quang Thế Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp –
Đại học Thái Nguyên
Đào tạo theo Hệ thống tín chỉ, lần đầu tiên được tổ chức tại trường Đại học
Harvard, Hoa kỳ vào năm 1872, sau đó lan rộng ra khắp Bắc Mỹ và thế giới. Đây
là phương thức đào tạo theo triết lý “Tôn trọng người học, xem người học là
trung tâm của quá trình đào tạo”. Theo đánh giá của Tổ chức ngân hàng thế
giới (World Bank), thì đào tạo theo Hệ thống tín chỉ, không chỉ có hiệu quả
đối với các nước phát triển mà còn rất hiệu quả đối với các nước đang phát
triển. Ở
nước ta, trường Đại học Bách khoa Thành
phố Hồ Chí Minh đã triển khai đào tạo theo Hệ thống tín chỉ từ năm học
1993-1994 và đã đạt được nhiều kết quả tốt đẹp. Trong “Chương
trình hành động của chính phủ” thực hiện nghị quyết số 37/2004/QH11 khóa XI,
kỳ họp thứ sáu của Quốc hội về giáo dục đã chỉ rõ: “Mở rộng, áp dụng học chế
tín chỉ trong đào tạo đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp …”. Đề án đổi mới giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn
2006-2020 đã được Chính phủ phê duyệt cũng khẳng định: “… xây dựng học chế
tín chỉ thích hợp cho giáo dục đại học ở nước ta và vạch ra lộ trình hợp lý
để toàn bộ hệ thống giáo dục đại học chuyển sang đào tạo theo học chế tín
chỉ…”. Cho đến nay, cả nước đã có hơn 20 trường trong toàn quốc chuyển đổi
sang đào tạo theo Hệ thống tín chỉ với lộ trình và bước đi hợp lý. Nếu như, trong đào tạo theo học phần –
niên chế, sinh viên phải học theo tất cả những gì Nhà trường sắp đặt, không
phân biệt sinh viên có điều kiện, năng lực tốt, hay sinh viên có hoàn cảnh
khó khăn, năng lực yếu. Ngược lại, đào tạo theo Hệ thống tín chỉ cho phép
sinh viên có thể chủ động học theo điều kiện và năng lực của mình. Những sinh
viên giỏi có thể học theo đúng hoặc học vượt kế hoạch học tập toàn khóa, kế
hoạch học tập từng học kỳ theo gợi ý của Nhà trường, để tốt nghiệp theo đúng
thời gian chuẩn của chương trình hoặc sớm hơn. Những sinh viên bình thường và
yếu có thể kéo dài thời gian học tập trong trường và tốt nghiệp muộn hơn. Vì
thế, sinh viên phải tự lập kế hoạch học tập toàn khóa và từng học kỳ cho phù
hợp với năng lực và điều kiện cụ thể của bản thân dưới sự giúp đỡ của giáo
viên chủ nhiệm hay cố vấn học tập. Toàn bộ hệ thống quản lý đào tạo, quản lý
sinh viên vì thế phải vận hành theo yêu cầu riêng của từng sinh viên làm cho
quá trình quản lý trở nên hết sức phức tạp so với đào tạo theo học phần -
niên chế. Chương trình đào tạo của tất cả các ngành đều phải cấu trúc lại
theo hướng mô đun hóa thành những học phần; lịch trình giảng dạy phải thực
hiện hết sức chính xác, không được đổi giờ hoặc bỏ giờ; mỗi giảng viên, mỗi
sinh viên đều có thời khóa biểu riêng, không theo một quy luật nào cả v.v. Vì
thế, nếu trước kia sinh viên phải “chạy” theo kế hoạch của nhà trường thì bây
giờ nhà trường phải “chạy” theo kế hoạch của từng sinh viên. Khi triển khai
đào tạo theo Hệ thống tín chỉ, trong học kỳ thứ nhất và thứ hai, các nhà
trường đều gặp phải những khó khăn nhất định, đó cũng là điều tất yếu, vì đào
tạo theo Hệ thống tín chỉ yêu cầu một hệ thống quản lý khoa học, chặt chẽ,
linh hoạt và mềm dẻo. Đào tạo theo tín chỉ còn đòi hòi cả người dạy và người
học phải thay đổi cách tư duy, đổi mới phương pháp dạy và học từ bị động sang
chủ động một cách nghiêm túc. Đào tạo theo hệ thống tín chỉ, chỉ có thể thành
công, đi vào thế ổn định và phát triển, khi có sự chỉ đạo rất kiên quyết và
khoa học của Ban giám hiệu, đặc biệt là vai trò lãnh đạo của đồng chí Hiệu
trưởng, sự phối hợp đồng bộ giữa các đơn vị trong trường, đội ngũ giảng viên
nhận thức được trách nhiệm và tham gia vào quá trình đào tạo một cách tự
giác, bằng cả tấm lòng của người thầy. Điều mà một số sinh viên thường đổ lỗi khi bị buộc
thôi học là tại thang điểm 4 và điều kiện buộc thôi học quá khắt khe trong
“Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo Hệ thống tín chỉ” của
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành kèm theo quyết định số 43/2007/QĐBGD&ĐT. + Thực ra thang điểm 4 là thang điểm rất có lợi cho
sinh viên và là thang điểm đánh giá “sạch” có thể thấy rõ điều này như sau: Điểm không đạt 0 – 3,9 thang điểm 10 tương đương điểm F = 0 thang
điểm 4 Điểm đạt 4,0 – 5,4 thang điểm 10 tương đương điểm D = 1 thang
điểm 4 5,5 – 6,9 thang điểm 10 tương đương điểm C = 2 thang
điểm 4 7,0 – 8,4 thang điểm 10 tương đương điểm B = 3 thang
điểm 4 8,5 – 10 thang điểm 10 tương đương điểm A = 4 thang
điểm 4 - Sinh viên chỉ cần đạt điểm học phần 8,5 (thang điểm 10) thì khi quy đổi sang thang điểm 4 sẽ là
điểm A = 4 (điểm cao nhất của thang điểm 4). - Sinh viên đạt điểm học phần từ 4,0
- 4,9 (thang điểm 10) là điểm không đạt đối với học phần – niên chế, nhưng
khi quy đổi sang thang điểm 4 là điểm D = 1 lại là điểm đạt. Sinh viên có thể
không cần học lại học phần này hoặc học lại để cải thiện điểm đều được. - Trong đào tạo theo học phần – niên chế, sinh viên
muốn có kết quả học tập xếp loại Khá thì phải đạt điểm trung bình chung của
tất cả các học phần tối thiểu là 7,0 trong khi trong
đào tạo theo Hệ thống tín chỉ thì chỉ cần một nửa số tín chỉ tích lũy có điểm
học phần 7,0 và nửa còn lại có điểm học phần 5,5 là được. - Đánh giá “sạch” có nghĩa là nếu điểm học phần từ 0
- 3,9 (thang điểm 10) khi quy đổi sang thang điểm 4
sẽ là điểm F = 0 (điểm F của ta còn thấp hơn ở các nước phát triển nhiều, ở
Hoa Kỳ điểm F = 0 tương đương từ 0 - dưới 6,0). Điểm học phần F sẽ không có
tác dụng nâng điểm trung bình chung học kỳ hay tích lũy như trong đào tạo
theo học phần - niên chế, và như thế, kết quả học tập của sinh viên được đánh
giá chính xác hay còn gọi là “sạch”, vì không bị lẫn những kết quả kém. - Đánh giá học phần trong đào tạo theo Hệ thống tín
chỉ là đánh giá quá trình với điểm thi kết thúc học phần, có thể chỉ chiếm
50% tỷ trọng điểm học phần. Điều này làm cho sinh viên phải học tập, kiểm tra
và thi liên tục trong suốt học kỳ chứ không phải chỉ trông chờ vào kết quả
của 1 kỳ thi đầy may rủi, nhưng có “nhiều cơ hội” để không học mà cũng có thể
đạt. Vì thế khi điểm học phần không đạt thì phải học lại để đánh giá lại tất
cả các điểm bộ phận và thi lại, chứ không thể chỉ tổ chức thi kết thúc học
phần thêm lần 2. + Về điều kiện buộc thôi học Điều kiện buộc thôi học theo Quy chế
của Bộ hiện nay, không hề khắc nghiệt, bởi vì chỉ cần được tư vấn tốt thì khả
năng sinh viên bị buộc thôi học là rất ít. Sinh viên bị buộc thôi học không
thể nói rằng do không biết thế nào là “điểm đạt”, bởi vì trước khi tổ chức
đào tạo theo tín chỉ sinh viên bắt buộc phải học Quy chế đào tạo và Quy chế
này chắc chắn được công bố rất rộng rãi trong trường. Điều kiện buộc thôi học
với điểm trung bình chung học kỳ (TBCHK) dưới 1,0
cũng rất nhẹ vì nó chưa bằng 25% điểm cao nhất của thang điểm 4. Hơn nữa sinh
viên xếp hạng học tập yếu (có điểm trung bình trung tích lũy dưới 2,0, theo thang
điểm 4), có thể chỉ cần học 10 tín chỉ/ học kỳ, tương đương với 3-4 học phần,
mà điểm TBCHK không đạt nổi 1,0 thì việc buộc thôi học là đương nhiên. Ngay
cả khi sinh viên nhận ra số tín chỉ đăng ký vượt quá khả năng học tập của bản
thân, thì trong 6 tuần đầu của học kỳ chính, sinh viên vẫn được phép rút bớt
học phần, miễn là đảm bảo số tín chỉ tối thiểu quy định trong Quy chế của Bộ
Giáo dục và Đào tạo. Trường hợp sinh viên học 6 học phần, trong đó có bốn học
phần đạt điểm 5,4; một học phần đạt 5,0; một học phần
đạt 3,9 (theo thang điểm 10), mà có báo đã lấy dẫn chứng, không khác gì trong
học phần niên chế, một sinh viên cũng học 6 học phần với bốn học phần đạt
4,9; một học phần đạt 4,5; một học phần đạt 3,4. Những trường hợp này xác
xuất không quá vài phần nghìn, vì thế, không thể dùng kết quả đó để quy nạp
thành quy luật chung được. Cũng không thể nói sinh viên có điểm số “cao” và
chỉ cần vướng một học phần có nhiều tín chỉ cũng bị buộc thôi học vì ở đây
chưa nói điểm số cao là mấy? Khi nói về giảng viên cho điểm “đạt” theo cảm
giác thì lại càng sai, vì khi đánh giá kết quả học tập của sinh viên, tất cả
các bài kiểm tra và thi kết thúc học phần, đều phải đánh giá theo các quy
định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tức là phải có đáp án và thang điểm chính
xác tới 0,25, nên sao có thể tùy tiện được? GS.TS.
Đặng Quốc Thông, giám đốc chương trình Hàng không Vũ trụ của trường Đại học Syracuse
Hoa Kỳ khi đến thăm trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp - Đại học Thái Nguyên
đã nói rằng: “Cứ 3 sinh viên vào học các ngành kỹ thuật của trường Đại học
này thì có 1 sinh viên chắc chắn sẽ phải buộc thôi học (33% phải đào thải)”.
Việc buộc thôi học là rất cần thiết, vì nó tạo áp lực để sinh viên phải học
tập, phải rèn luyện, nhưng dừng ở tỷ lệ bao nhiêu thì còn phụ thuộc vào điều
kiện cụ thể của từng trường. Còn một vấn đề có không ít ý kiến phàn nàn, đó là
trong đào tạo theo Hệ thống tín chỉ, số tiết dạy trên lớp quá ít thì sao đảm
bảo chất lượng đào tạo? Đào tạo theo tín chỉ là phương thức đào tạo tiên
tiến, vì thế nó đòi hỏi sự đổi mới trong phương pháp dạy và học, từ tiếp cận
nội dung sang tiếp cận phương pháp. Cái chúng ta cần ở sinh viên ngày nay khi
ra trường không phải là những kiến thức ghi chép được trong một quyển vở mà
thầy đọc cho như trước kia, mà là năng lực tự học, sáng tạo, để giải quyết
những vấn đề trong thực tiễn, thậm chí chưa bao giờ được học ở trường. Nếu cứ
theo quan điểm phải dạy và học như những năm của thế kỷ 20, thì ngày nay đào
tạo đại học dù kéo dài đến 10 năm cũng không đủ kiến thức cho sinh viên ra
trường làm việc. Hiện nay trong đào tạo theo học phần – niên chế, 01 đơn vị
học trình (ĐVHT) = 15 tiết lên lớp (nói chung các trường đều bố trí chung cho
cả lý thuyết và bài tập) và để tiếp thu được 01 ĐVHT sinh viên chỉ cần chuẩn
bị 15 tiết ở nhà. Trong đào tạo theo tín chỉ, 01 tín chỉ (TC) = 15 tiết chuẩn
= 12 tiết lên lớp lý thuyết + 6 tiết lên lớp thảo luận, thí nghiệm v.v. = 18
tiết lên lớp, và để tiếp thu được 1 TC sinh viên phải chuẩn bị 30 tiết ở nhà.
Điều này cho thấy giờ dạy lý thuyết trên lớp giảm nhưng giờ thảo luận và tự
học của sinh viên tăng nhiều, và được bố trí rõ ràng, chứ không mập mờ như
trước kia. Sinh viên có cơ hội để tự học và học theo kiểu thảo luận nhóm, còn
giảng viên chỉ là người giúp đỡ sinh viên cách tư duy, phương pháp tự học, sáng
tạo, chứ không phải đơn thuần là truyền thụ lại kiến thức. Có thể thấy rằng, đào tạo theo Hệ thống tín chỉ đòi
hỏi sinh viên phải nắm chắc Quy chế đào tạo và được tư vấn đầy đủ, để lập
được kế hoạch học tập thật phù hợp với điều kiện và năng lực cụ thể của mình.
Nhưng điều quan trọng hơn là sinh viên phải tiếp cận được với phương pháp học
tập chủ động, lấy tự học và học tập theo nhóm làm chính, để đáp ứng được yêu
cầu của đào tạo và quan điểm học tập suốt đời của thời đại ngày nay. Bản chất
của đào tạo theo Hệ thống tín chỉ mà Quy chế đào tạo là cơ sở để vận hành nó
luôn tạo điều kiện tốt nhất cho người học phát huy cao độ năng lực của bản
thân. Tuy nhiên trên con đường chuyển đổi từ cái cũ sang cái mới, mỗi nhà
trường cần có lộ trình và liên tục điều chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh cụ
thể của mình. Không nhìn nhận rõ bản chất và yêu cầu của đào tạo theo tín
chỉ, chỉ dựa trên những hiện tượng không phổ biến, suy nghĩ phiến diện, thiếu
cơ sở khoa học mà phê phán nó cũng như phê phán “Quy chế đào tạo đại học và
cao đẳng hệ chính quy theo Hệ thống tín chỉ” của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc
biệt trên những phương tiện thông tin đại chúng, sẽ gây hoang mang và có thể
tạo nên những cản trở đối với sự nghiệp đổi mới giáo dục đại học Việt Nam.
|